SKKN Một số kinh nghiệm Tổ chức phụ đạo học sinh yếu

 Năm học 2009 – 2010, trường TH Khánh Thạnh Tân 2 có số học

sinh (HS) yếu là: 21 em /5 khối. Lên lớp sau thi lại là: 10 em, còn lại 11 em là HS

lưu ban. Đầu năm học 2010 - 2011 theo điều tra và báo cáo của các khối hiện có:

63 HS học yếu rải đều các môn học tỉ lệ 17,5 % so tổng số học sinh toàn trường

trong đó đã tính 4 HS thuộc dạng hòa nhập do chậm phát triển trí tuệ. Sau Hội

Nghị CBCNVC đầu năm, BGH chúng tôi tiến hành xây dựng kế hoạch phụ đạo

HS yếu của trường, đứng trước thực tế khó khăn trên BGH chúng tôi hết sức lo

lắng về hiệu quả của công tác phụ đạo HS yếu. Nhưng “trong cái khó lại ló cái

khôn”. Bằng kinh nghiệm quản lí và giảng dạy nhiều năm, qua học hỏi từ đồng

nghiệp chúng tôi đã rút ra một số kinh nghiệm khi áp dụng thấy có hiệu quả trong

việc giáo dục HS yếu. Mong muốn được chia sẽ cùng giáo viên trường và cũng

tạo điều kiện để thu thập thêm kinh nghiệm, xây dựng kế hoạch phụ đạo HS yếu

của trường thiết thực hơn. Chúng tôi đã tổ chức trình bày một số kinh nghiệm của

mình với giáo viên và xin ý kiến đóng góp thêm của giáo viên về các giải pháp đã

thực hiện thấy có hiệu quả. Sau đó tổng hợp viết thành sáng kiến kinh nghiệm để

giáo viên trường tham khảo thêm.

pdf 14 trang Huy Quân 01/04/2025 460
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số kinh nghiệm Tổ chức phụ đạo học sinh yếu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Một số kinh nghiệm Tổ chức phụ đạo học sinh yếu

SKKN Một số kinh nghiệm Tổ chức phụ đạo học sinh yếu
1 
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 
ĐỀ TÀI: 
PHỤ ĐẠO HỌC SINH YẾU
2 
PHẦN MỞ ĐẦU. 
I. Bối cảnh chọn đề tài: 
 Năm học 2009 – 2010, trường TH Khánh Thạnh Tân 2 có số học 
sinh (HS) yếu là: 21 em /5 khối. Lên lớp sau thi lại là: 10 em, còn lại 11 em là HS 
lưu ban. Đầu năm học 2010 - 2011 theo điều tra và báo cáo của các khối hiện có: 
63 HS học yếu rải đều các môn học tỉ lệ 17,5 % so tổng số học sinh toàn trường 
trong đó đã tính 4 HS thuộc dạng hòa nhập do chậm phát triển trí tuệ. Sau Hội 
Nghị CBCNVC đầu năm, BGH chúng tôi tiến hành xây dựng kế hoạch phụ đạo 
HS yếu của trường, đứng trước thực tế khó khăn trên BGH chúng tôi hết sức lo 
lắng về hiệu quả của công tác phụ đạo HS yếu. Nhưng “trong cái khó lại ló cái 
khôn”. Bằng kinh nghiệm quản lí và giảng dạy nhiều năm, qua học hỏi từ đồng 
nghiệp chúng tôi đã rút ra một số kinh nghiệm khi áp dụng thấy có hiệu quả trong 
việc giáo dục HS yếu. Mong muốn được chia sẽ cùng giáo viên trường và cũng 
tạo điều kiện để thu thập thêm kinh nghiệm, xây dựng kế hoạch phụ đạo HS yếu 
của trường thiết thực hơn. Chúng tôi đã tổ chức trình bày một số kinh nghiệm của 
mình với giáo viên và xin ý kiến đóng góp thêm của giáo viên về các giải pháp đã 
thực hiện thấy có hiệu quả. Sau đó tổng hợp viết thành sáng kiến kinh nghiệm để 
giáo viên trường tham khảo thêm. 
 II. Lí do chọn đề tài: 
 - Nhằm thực hiện đúng nội dung, tinh thần của cuộc vận động “Hai 
không” mà đặc biệt là nội dung “không để HS ngồi nhầm lớp”, góp phần nâng cao 
chất lượng giáo dục, giảm dần số HS yếu, đáp ứng nhu cầu giáo dục trong giai 
đoạn hiện nay. 
 - Trong thực tế giảng dạy giáo viên gặp rất nhiều khó khăn, lúng 
túng trong phụ đạo HS yếu, do thiếu kinh nghiệm và thực hiện không đúng quy 
trình, hoặc quá nôn nóng muốn có ngay kết quả, nên thường thất bại hoặc đạt kết 
quả không cao. 
 - Nhằm tập hợp kinh nghiệm, xây dựng quy trình phụ đạo, giúp giáo 
3 
 viên có định hướng và giải pháp phụ đạo tốt hơn, có hiệu quả hơn. Nhằm chia sẽ 
các kinh nghiệm giáo dục HS yếu với quý đồng nghiệp và tổng hợp nhiều hơn các 
giải pháp có thể áp dụng vào giảng dạy, tháo gở khó khăn trong công tác phụ đạo 
HS yếu trong giai đoạn hiện nay. Đó cũng chính là lí do chúng tôi chọn đề tài này 
để nghiên cứu. 
 III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu: 
 Đề tài tập trung nghiên cứu các giải pháp và quy trình tổ chức phụ đạo 
HS yếu các khối lớp từ 1 đến 5 trong nhà trường tiểu học. Đúc kết thành hệ thống 
những kinh nghiệm dạy học đạt hiệu quả. 
IV. Mục đích nghiên cứu: 
 Như đã nêu trên, mục đích nghiên cứu là mong muốn tập hợp nhiều ý 
kiến, nhiều giải pháp và kinh nghiệm, để chia sẽ, trao đổi nhằm thực hiện có chất 
lượng hơn công tác phụ đạo HS yếu; Giúp giáo viên dạy lớp dễ dàng áp dụng 
mang lại hiệu quả cao hơn trong giáo dục HS yếu. Góp phần nâng cao chất lượng 
giáo dục toàn diện và hạn chế học sinh lưu ban. Thực hiện tốt “ Nói không với 
học sinh ngồi nhầm lớp” , thực hiện đúng mục tiêu giáo dục đã đề ra. 
V. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu: 
 Thực ra nội dung đề tài là những kinh nghiệm dạy học đã thực hiện, 
được nghiên cứu một cách có hệ thống, có quy trình. Không mới nhưng đề tài có 
ý nghĩa thiết thực và mang tính thực tiển cao, đáp ứng được nhu cầu của giáo viên 
trong giai đoạn giáo dục hiện nay. Nó giúp HS yếu tự tin, tự vươn lên trong học 
tập, biết tự đặt ra nhiệm vụ học tập và có khả năng tự học suốt đời. 
PHẦN NỘI DUNG 
I. Cơ sở lí luận: 
 - Việc HS học yếu là vấn đề đau đầu từ các cấp lãnh đạo cho đến giáo 
viên dạy lớp, nhiều giáo viên mất ăn mất ngủ để tìm được những giải pháp có thể 
giúp một HS yếu tiến bộ. Và cũng không có gì vui hơn khi nhìn thấy HS mình học 
tập ngày càng tiến bộ. 
4 
 - Qua nghiên cứu từ thực tiển và kinh nghiệm dạy học của giáo viên 
thời gian qua. Chúng ta tạm thời định nghĩa HS yếu như sau: 
 *Thế nào là HS yếu?: Là những HS bằng kiến thức, kĩ năng, kinh 
nghiệm của bản thân mình, dưới sự hướng dẫn của giáo viên không tự giải quyết 
được những mâu thuẩn trước mắt để tự chiếm lĩnh tri thức của bài học, hoặc bị 
hụt hẫng, chậm chạp trong vận dụng các kiến thức kĩ năng cơ bản phải có ở HS để 
giải quyết một bài tập hay một yêu cầu được đặt ra trong quá trình dạy và học. 
II. Thực trạng: 
 Xuất phát từ định nghĩa đã nêu chúng tôi có thể khẳng định trong bất kì 
lớp học nào ở bậc tiểu học cũng có HS học yếu. Với chương trình sách giáo khoa 
và quy định về chuẩn kiến thức kĩ năng mới hiện nay thì số HS còn hụt chuẩn là 
một con số không nhỏ. 
 * Thuận lợi: 
 Công tác phụ đạo HS yếu trong nhà trường cũng có những thuận lợi nhất 
định đó là: 
 - Phía HS: Tinh thần và thái độ học tập có chuyển biến tốt, tham dự đầy đủ 
các buổi học phụ đạo. 
 - Phía nhà trường và giáo viên: Cơ sở vật chất trường lớp phục vụ tốt cho 
công tác phụ đạo, ngay đầu năm nhà trường đã có xây dựng kế hoạch phụ đạo HS 
yếu và được giáo viên hưởng ứng tốt, tích cực tham gia giảng dạy. 
 * Khó khăn: Bên cạnh đó còn những khó khăn bức xúc chung rất 
khó có thể giải quyết triệt để nếu không có sự đồng tâm của tập thể giáo viên, cụ 
thể là: 
 - Học sinh: Đọc chậm, đọc sai, viết chậm, viết sai, học vẹt không có khả 
năng vận dụng kiến thức, nói chung các kĩ năng cơ bản: nghe -đọc –nói -viết của 
các em chưa hoàn chỉnh. Không biết làm tính, yếu các kĩ năng tính toán cơ bản, 
cần thiết như (cộng, trừ nhân, chia). Khả năng phân tích, so sánh còn hạn chế. 
5 
 - Giáo viên: Chưa xác định được cách phụ đạo học sinh, chưa biết phải bắt 
đầu từ đâu, luôn lúng túng khi xây dựng nội dung phụ đạo, nên kết quả thường 
không cao. 
 Chính vì vậy công tác phụ đạo hiện nay luôn được các nhà trường và giáo 
viên đặc biệt quan tâm. 
III. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề: 
 Việc tổ chức phụ đạo phải được thực hiện có quy trình rõ rệt cụ thể, thực 
hiện theo các bước sau: 
 1. Bước 1: Xác định đối tượng: Dựa vào định nghĩa đã nêu giáo 
viên tiến hành kiểm tra khảo sát lựa chọn chính xác đối tượng: Cần chú ý có hai 
loại đối tượng là: Đối tượng mở rộng và đối tượng tập trung. 
 * Đối tượng mở rộng: là đối tượng thuộc dạng học yếu trong một giai đoạn, 
một khoảng thời gian nhất định, với sự giúp đỡ kịp thời của giáo viên những HS 
này có khả năng tự thoát khỏi dạng học yếu trong một khoảng thời ngắn. 
 * Đối tượng tập trung ( đối tượng chính): là những HS yếu thật sự không có 
khả năng theo kịp kiến thức của bài học, hoặc bị hạn chế ở một hay nhiều kĩ năng 
cơ bản không có khả năng tự thực hiện yêu cầu của bài học. Số HS thuộc đối 
tượng này phải được giáo viên quan tâm giúp đỡ trong thời gian dài và xuyên suốt 
trong quá trình dạy học mới có thể hòa nhập được cùng các bạn. Nói cụ thể hơn 
là giáo viên cần xác định kỹ hơn HS mình bị yếu ở điểm nào. Đây là bước hết sức 
quan trọng để tiến hành các bước tiếp theo. 
 2. Bước 2: Tìm nguyên nhân: Từ việc đã xác định được đối 
tượng giáo viên phải tiến hành điều tra và xác định được nguyên nhân nào dẫn 
đến việc học yếu. Qua việc tìm hiểu, điều tra, kiểm tra, quan sát, đi thực tế. 
Chúng ta phải xác định rõ nguyên nhân dẫn đến học yếu của từng em. Đây là 
bước quan trọng để có thể lựa chọn đúng giải pháp giúp các em học tiến bộ hơn. 
Một số nguyên nhân có thể dẫn đến việc HS học yếu: 
 . Do trí tuệ kém phát triển. 
 . Do lơ là trong học tập. 
6 
 . Do bị hỏng một số kiến thức, kĩ năng cơ bản. 
 . Do ham chơi, lười học. 
 . Do không thích thầy cô. 
 . Do phương pháp của giáo viên chưa phù hợp, lời giảng chưa thu hút. 
 . Do gia đình thiếu quan tâm, hoàn cảnh gia đình quá khó khăn phải 
phụ làm thêm với cha mẹ không có thời gian học ở nhà. 
 . Do ảnh hưởng tâm lý. 
 . Do ảnh hưởng từ bạn bè. 
 . Do bị nghiện game, hoặc có một số sở thích khác. 
 Việc xác định nguyên nhân là cả một quá trình vô cùng khó khăn và phức tạp 
nhưng đó chính là điều kiện không thể thiếu để lựa chọn giải pháp giáo dục phù 
hợp cho từng đối tượng mà chúng ta đã tìm được nguyên nhân. 
 3. Bước 3: Lựa chọn và ứng dụng các kinh nghiệm, giải pháp 
giáo dục HS. 
 - Tất cả có 3 nhóm giải pháp chính, nhưng khi lựa chọn và áp dụng thì đó lại là 
sự đan xen, phối hợp, hổ trợ cho nhau tùy theo nguyên nhân dẫn đến học yếu của 
HS. Chính vì vậy giải pháp là từ chính HS mà ra, tức là HS yếu gì? Nguyên nhân 
từ đâu mà ta đề ra giải pháp thích hợp. Do đó tìm đúng đặc điểm và nguyên nhân 
dẫn đến học yếu, là yếu tố quyết định cho việc lựa chọn các nhóm giải pháp khắc 
phục vấn đề học yếu của HS. 
 - Trong quá trình thực hiện kế hoạch chúng tôi đã tập hợp, lựa chọn và vận 
dụng các nhóm giải pháp sau để giáo dục HS yếu thấy có hiệu quả: 
 3.1 . Nhóm giải pháp kích thích thái độ học tập của HS: 
 Đây là nhóm giải pháp mang tính cơ bản và quan trọng nhất nó phù hợp 
với hầu hết các đối tượng HS, do nhiều nguyên nhân yếu. Thực vậy trong quá 
trình giảng dạy mỗi giáo viên đều ý thức được rằng “Tác phong học tập có quyết 
định rất lớn trong quá trình chiếm lĩnh tri thức của HS.” 
7 
 * Tác phong học tập là gì?: Tác phong học tập là một hệ thống thái độ, 
hành vi của người học đối với một hoạt động, một hình thức tổ chức, một lời 
giảng của người dạy trong quá trình dạy học và giáo dục. 
 - Bằng câu chuyện, tấm gương hay một bài giáo dục hướng nghiệp, lời tâm sự 
chân tình của giáo viên làm cho HS ý thức được lợi ích của việc học tập, cảm 
nhận được việc học là vinh quang, không phải là một nhiệm vụ quá khó khăn 
phức tạp. 
 - Xem trọng việc xây dựng nề nếp lớp và giáo dục đạo đức cho HS chính nề 
nếp lớp làm cho HS thấy việc học quan trọng hơn. Từ đó có đầy đủ ý chí, sự tập 
trung cao độ cho việc học. Chính những tấm gương đạo đức, lễ nghĩa làm cho HS 
thấy được ý thức trách nhiệm của mình với lớp, với thầy cô, cha mẹ, gia đình và 
mọi người về việc học của mình. 
 - Sử dụng lời động viên, khen ngợi hợp lí: Là con người, ai cũng thích được 
khen và cố gắng để xứng đáng với lời khen đó.Trong mỗi chúng ta ai cũng có 
nhiều kỉ niệm đẹp về một thời đi học, mà có lẽ lời khen của thầy c

File đính kèm:

  • pdfskkn_mot_so_kinh_nghiem_to_chuc_phu_dao_hoc_sinh_yeu.pdf