SKKN Xây dựng ma trận đề kiểm tra trắc nghiệm môn Sinh học 12 ở Trường THPT Kiệm Tân
Khi Sở giáo dục đào tạo mở lớp tập huấn vào tháng 3/2011 đa số chúng tôi được
tập huấn xây dựng quy trình ra đề kiểm tra đánh giá học sinh bằng hình thức tự luận.
Hầu hết các giáo viên trong trường nói chung và giáo viên trong tổ Sinh nói riêng còn
lúng túng và chưa thật sự bắt nhịp kịp với việc xây dựng qui trình ra đề kiểm tra đánh
giá học sinh bằng hình thức trắc nghiệm.
Trường THPT Kiệm Tân không đứng ngoài thực trạng đó. Hơn ai hết, là giáo
viên bộ môn sinh tôi nhận thức rõ việc đổi mới công tác kiểm tra đánh giá học sinh hiện
nay là cấp thiết. Vì vậy, tôi quyết định viết chuyên đề “Xây dựng ma trận đề kiểm tra
trắc nghiệm môn sinh học 12 ở trường THPT Kiệm Tân” để một phần nào đó giúp
các thành viên trong tổ của tôi thấy dễ dàng khi xây dựng đề kiểm tra trắc nghiệm môn
sinh khối 12 cũng như khối 10, 11 đồng thời góp phần cùng nhà trường đánh giá đúng
năng lực thực sự của học sinh cũng như đánh giá được năng lực thực sự của giáo viên
bộ môn.
Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Xây dựng ma trận đề kiểm tra trắc nghiệm môn Sinh học 12 ở Trường THPT Kiệm Tân

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM XÂY DỰNG MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA TRẮC NGHIỆM MÔN SINH HỌC 12 Ở TRƯỜNG THPT KIỆM TÂN PHẦN MỞ ĐẦU LÝ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện có đạo đức tri thức, sức khỏe thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. (Điều 2 Luật Giáo dục của nước CHXHCN Việt Nam 2005). Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông phải là quá trình đổi mới từ mục tiêu, nội dung, phương pháp đến phương tiện giáo dục, đánh giá chất lượng giáo dục. Trong đó, đổi mới kiểm tra đánh giá là công cụ quan trọng góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục. Hiện nay mặc dù đã được tập huấn về kĩ năng biên soạn đề kiểm tra nhưng một số giáo viên còn lúng túng trong việc thực hiện các bước trong qui trình. Giáo viên mới chỉ đánh giá để biết được mức độ tiếp thu kiến thức và kỹ năng của người học. Theo các nhà nghiên cứu giáo dục thì cái quan trọng nhất trong việc đào tạo ở THPT là dạy cách học, do vậy khi chọn nội dung và hình thức đánh giá cần phải bảo đảm nguyên tắc "Kiểm tra đánh giá của giáo viên phải kích thích được sự tự kiểm tra đánh giá của người học và kiểm định được chính xác khách quan và mức độ cần đạt được của nội dung kiến thức ". Khi Sở giáo dục đào tạo mở lớp tập huấn vào tháng 3/2011 đa số chúng tôi được tập huấn xây dựng quy trình ra đề kiểm tra đánh giá học sinh bằng hình thức tự luận. Hầu hết các giáo viên trong trường nói chung và giáo viên trong tổ Sinh nói riêng còn lúng túng và chưa thật sự bắt nhịp kịp với việc xây dựng qui trình ra đề kiểm tra đánh giá học sinh bằng hình thức trắc nghiệm. Trường THPT Kiệm Tân không đứng ngoài thực trạng đó. Hơn ai hết, là giáo viên bộ môn sinh tôi nhận thức rõ việc đổi mới công tác kiểm tra đánh giá học sinh hiện nay là cấp thiết. Vì vậy, tôi quyết định viết chuyên đề “Xây dựng ma trận đề kiểm tra trắc nghiệm môn sinh học 12 ở trường THPT Kiệm Tân” để một phần nào đó giúp các thành viên trong tổ của tôi thấy dễ dàng khi xây dựng đề kiểm tra trắc nghiệm môn sinh khối 12 cũng như khối 10, 11 đồng thời góp phần cùng nhà trường đánh giá đúng năng lực thực sự của học sinh cũng như đánh giá được năng lực thực sự của giáo viên bộ môn. PHẦN II. CƠ SỞ LÝ LUẬN Đánh giá chất lượng giáo dục gồm nhiều vấn đề, trong đó hai vấn đề cơ bản nhất là đánh giá chất lượng dạy của thầy cô và đánh giá chất lượng học của học sinh. Từ đó sẽ tạo động lực nâng cao chất lượng dạy và học. Kiểm tra - đánh giá là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh. Qua đó Ban giám hiệu có thể đánh giá được năng lực cũng như phương pháp giảng dạy của giáo viên bộ môn. Trong qúa trình hình thành và hoàn thiện nhân cách của mình, mỗi học sinh được trải qua quá trình giáo dục bao gồm các mặt giáo dục trí tuệ, đạo đức, thể chất, thẩm mĩ. Đánh giá chất lượng học tập của các môn học của học sinh thực chất là xem xét mức độ nhận thức cũng như năng lực mà học sinh có được sau mỗi kì học, mỗi năm học. Trong quá trình dạy học, giáo viên phải đặt ra những kế hoạch để kiểm tra mức độ đạt được yêu cầu so với mục tiêu đặt ra. Kiểm tra xem học sinh đạt được những yêu cầu về các mặt ở mức độ nào, so với mục tiêu môn học đề ra hoàn thành được đến đâu. Hoạt động dạy và học luôn cần có những thông tin phản hồi để điều chỉnh kịp thời nhằm tạo ra hiệu quả ở mức cao nhất thể hiện ở chất lượng học tập của học sinh. Đồng thời Ban giám hiệu biết được năng lực của giáo viên bộ môn từ đó có kế hoạch bồi dưỡng thêm. Có 2 hình thức kiểm tra - đánh giá: - Kiểm tra - đánh giá thường xuyên: thông qua các giờ học trên lớp hoặc công việc mà giáo viên bộ môn giao học sinh chuẩn bị ở nhà. - Kiểm tra - đánh giá định kỳ: là hoạt động của giáo viên vào những thời điểm đã được qui định trong đề cương môn học, gắn các mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn với những phương pháp kiểm tra - đánh giá tương ứng nhằm đánh giá, định hướng việc đạt mục tiêu môn học ở giai đoạn tương ứng của học sinh. + Kết quả kiểm tra - đánh giá định kì được xem là kết quả học tập môn học của học sinh và là cơ sở để đánh giá chất khi kết thúc học kì. Đổi mới kiểm tra đánh giá bao gồm nhiều mặt nhưng khâu thiết kế đề kiểm tra để đánh giá học sinh theo chúng tôi là khâu quan trọng nhất. Thiết kế đề phải xác định được mục đích, yêu cầu của đề; xác định mục tiêu dạy học; thiết lập ma trận hai chiều; thiết kế đáp án, biểu điểm, đồng thời tổ chức rút kinh nghiệm ở tổ bộ môn sau mỗi đợt kiểm tra. Đề kiểm tra là phương tiện đánh giá kết quả học tập của HS sau khi học xong một chủ đề, một chương, một học kỳ hay toàn bộ chương trình của một lớp học, một cấp học. Theo hướng dẫn của tài liệu tập huấn biên soạn câu hỏi và ra đề kiểm tra theo khung ma trận kiến thức, kỹ năng môn sinh học. * Để ra được một đề kiểm tra đạt yêu cầu cần đảm bảo được quy trình 5 bước sau đây: (Theo tài liệu hướng dẫn biên soạn đề kiểm tra tập huấn tháng 3 năm 2011 của Sở) Bước 1: Xác định mục tiêu, phạm vi, mô tả yêu cầu cần đạt của nội dung kiểm tra theo các cấp độ (từ dễ đến khó). Bước 2: Xây dựng nội dung ma trận cho đề kiểm tra Bước 3: Biên soạn thư viện câu hỏi và ra đề kiểm tra theo khung ma trận kiến thức, kỹ năng Bước 4: Xây dựng đáp án và biểu điểm cho đề kiểm tra Bước 5: Thẩm định và niêm phong đề kiểm tra, đáp án PHẦN III: CƠ SỞ THỰC TIỄN I. Thực trạng của tổ: - Khi tham gia học lớp tập huấn tôi được học về cách xây dựng ma trận đề, ra đề kiểm tra với hình thức tự luận, các thành viên trong tổ hầu hết thực hiện khá tốt các bước trong qui trình. Nhưng khi bắt tay vào việc vận dụng để ra đề trắc nghiệm khách quan thì các giáo viên lại tỏ ra lúng túng và thường xây dựng trên ma trận giống với ma trận thi tốt nghiệp THPT của Bộ giáo dục trước đây, không thể hiện rõ nội dung cụ thể cần kiểm tra. Khi đó nếu giáo viên có sử dụng ma trận đề để ôn tập sẽ chung chung vì thế học sinh sẽ phải học nhiều mà không có trọng tâm kiến thức. - Nhiều giáo viên còn cho rằng khi xây dựng ma trận chi tiết như qui trình đặt ra có thể sẽ làm học sinh dự đoán trước được đề thi và giáo viên thì tốn nhiều thời gian. - Trước đây môn sinh hầu như không kiểm tra tập trung mà chỉ kiểm tra trên lớp và giáo viên bộ môn tự ra đề kiểm tra, có người thì tự luận, có người thì trắc nghiệm không thống nhất. Trong khi đó kì thi tốt nghiệp và đại học trong 4 năm trở lại đây đã thay đổi hình thức thi từ tự luận sang trắc nghiệm khách quan đối với các bộ môn lý, hóa, sinh. 2. Giải pháp thay thế: Xuất phát từ thực trạng trên nên tôi quyết định xây dựng lại qui trình thực hiện việc đánh giá kết quả học tập của học sinh tại Tổ bộ môn Sinh – Công nghệ theo mô hình sau: Xây dựng ma trận đề kiểm tra (thông báo trước cho học sinh ma trận khoảng 2 tuần) Biên soạn câu hỏi kiểm tra (Tổ viên được phân công) Xây dựng đáp án và thang điểm cho đề kiểm tra Nộp cho tổ trưởng để thẩm định đề kiểm tra (Tổ trưởng chịu trách nhiệm độ chính xác và tính bảo mật của đề) Tổ trưởng kiểm tra lại thật kĩ và nộp lên phòng khảo thí của trường Tổ chức kiểm tra chung cho toàn khối (Thi giữa kì, thi học kì) Chấm bài tập trung, văn phòng nhập điểm (sắp xếp theo từng lớp) Thống kê kết quả từng khối lớp Nhận xét kết quả và rút kinh nghiệm (sinh hoạt tổ) 3. Các thuật ngữ sử dụng khi lập ma trận đề trắc nghiệm khách quan: tương tự như các thuật ngữ sử dụng trong ma trận đề kiểm tra tự luận đã được tập huấn: Nhận biết Thông hiểu Vận dụng cấp thấp Vận dụng cấp cao Thuật ngữ Nêu được, trình bày được khái niệm - giải thích cơ chế, hậu quả, lấy được ví dụ Làm bài tập áp dụng công thức có sẵn, các ứng dụng Áp dụng vào thực tiễn sản xuất, giải thích các hiện tượng trong tự nhiên, tính liên hệ thực tế; làm bài tập nâng cao 4. Việc tính điểm cho mỗi nội dung: - Giáo viên cần cân đối lượng kiến thức theo từng phần và số lượng tiết của từng bài trong tổng số bài mà mục tiêu cần kiểm tra (kiểm tra 1 tiết, hay kiểm tra học kì). - Tránh hiện tượng ngẫu hứng thích bài này nhiều nội dung hay ít nội dung. PHẦN IV. BIÊN SOẠN CÁC ĐỀ KIỂM TRA THƯỜNG XUYÊN MÔN SINH HỌC 12 BẰNG HÌNH THỨC TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN ĐỀ 1: ĐỀ KIỂM TRA 1 TIẾT SINH 12 (Thời gian 45 phút) I. Mục tiêu của đề kiểm tra: Nắm vững kiến thức về cơ chế di truyền và biến dị; tính qui luật của hiện tượng di truyền II. Hình thức kiểm tra: trắc nghiệm khách quan – 200 điểm (tính trung bình mỗi câu 5đ) III. Lập ma trận để kiểm tra: Chủ đề (nội dung, bài) Nhận biết Thông hiểu Vận dụng ở cấp độ thấp/cao 1. Gen, mã di truyền và quá trình nhân đôi ADN (1tiết) - Khái niệm mã DT - Bộ ba kết thúc - Enzim tham gia vào quá trình nhân đôi ADN - Xác định tổng số Nucleotit 10% = 20 điểm (4 câu) 75% hàng = 15đ (3 câu) 25% hàng = 5đ (1 câu) 2. Phiên mã và dịch mã 3. Điều hòa hđ gen (2 tiết) - Cấu trúc của 1 operon - Cơ chế phiên mã 7,5% = 15đ (3 câu) 33,33% hàng = 5đ (1 câu) 66,6%hàng=10đ(2 câu) 3. Đột biến gen (1 tiết) - Khái niệm đột biến gen - Tác nhân gây đột biến gen - Cơ chế phát sinh đột biến gen 7,5%% = 15đ(3 câu) 66,67% hàng = 10đ(2 câu) 33,3% hàng = 5đ(1 câu) 4. NST và đột biến cấu trúc NST, số lượng NST (2 tiết) - Đơn phân của NST - Cơ chế phát sinh và hậu quả của các dạng đột biến cấu trúc NST. - Xác định được sự thay đổi số lượng NST mỗi dạng sau đột biến. - Ứng dụng đột biến đa bội trong chọn giống. 20% = 40đ (8 câu) 12,5% hàng =5đ(1 câu) 37,5% hàng=15đ(3 câu) 50% hàng = 20đ (4 câu) 6. Qui luật Menden (2 tiết) - Phương pháp nghiên cứu của Menden - K/niệm lai phân tích - Nhận biết
File đính kèm:
skkn_xay_dung_ma_tran_de_kiem_tra_trac_nghiem_mon_sinh_hoc_1.pdf