SKKN Vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề vào giảng dạy bài 10, 11, 12 Sinh Lớp 12 - Ban cơ bản

Trong xã hội hiện đại, khoa học kỹ thuật phát triển nhanh như vũ bão với

sự xuất hiện của nhiều ngành khoa học mới đặc biệt là sự bùng nổ của công nghệ

thông tin làm cho khối lượng tri thức tăng lên một cách nhanh chóng. Điều đó đã

đặt ra cho dạy học một yêu cầu mới không chỉ dạy học kiến thức mà quan trọng

hơn là dạy cho học sinh cách học và tự học.

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn Đảng và Nhà nước đã và đang tiến hành đổi

mới toàn diện về giáo dục ở các cấp học trong đó có THPT nhằm nâng cao chất

lượng, hiệu quả đào tạo. Sự đổi mới này liên quan đến rất nhiều lĩnh vực như:

đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và kiểm tra

đánh giá. Trong đó đổi mới phương pháp dạy học được đặt lên hàng đầu. Luật

giáo dục điều 28.2 đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính

tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của

từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận

dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú

học tập cho học sinh” có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là “ hướng tới

hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động”.

pdf 20 trang Huy Quân 01/04/2025 300
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề vào giảng dạy bài 10, 11, 12 Sinh Lớp 12 - Ban cơ bản", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: SKKN Vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề vào giảng dạy bài 10, 11, 12 Sinh Lớp 12 - Ban cơ bản

SKKN Vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề vào giảng dạy bài 10, 11, 12 Sinh Lớp 12 - Ban cơ bản
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI 
Đơn vị: TRƯỜNG THPT NGUYỄN HỮU CẢNH 
   
 Mã số:. 
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NÊU VẤN ĐỀ 
VÀO GIẢNG DẠY BÀI 10, 11, 12 
SINH LỚP 12 - BAN CƠ BẢN 
 Người thực hiện: Dương Thị Oanh 
 Lĩnh vực nghiên cứu: 
 Quản lí giáo dục. 
 Phương pháp giảng dạy bộ môn: Sinh học 
 Lĩnh vực khác................. . 
 Có đính kèm: 
  Mô hình  Phần mềm  Phim ảnh  Hiện vật khác 
Năm học 2011 – 2012 
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC 
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN: 
1. Họ và tên: Dương Thị Oanh 
2. Ngày 28 tháng 6 năm 1968 
3. Giới tính: Nữ 
4. Địa chỉ: 
- Cơ quan: Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh – Long Bình Tân – Biên Hòa 
- Nhà riêng: B7/N4-Khu phố 2-Phường Long Bình Tân-Biên Hòa- Đồng Nai 
5. Điện thoại: 0918608870 
6. E-mail: duongoanh@nhc.edu.vn 
7 . Chức vụ: Chủ tịch Công đoàn; giáo viên 
8. Đơn vị công tác: Trường THPT Nuyễn Hữu Cảnh – Biên Hòa – Đồng Nai 
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO: 
1. Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân 
2. Năm nhận bằng: 1990 
3. Chuyên ngành đào tạo: Sinh học 
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC: 
1. Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy. 
2. Số năm có kinh nghiệm: 21 năm 
3. Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây: 
- Năm học 2006 – 2007: Phương pháp dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ áp 
dụng vào chương II: “Cấu trúc của tế bào ”– Sinh 10 chương trình nâng cao. 
- Năm học 2007 – 2008: Suy nghĩ về phương pháp đánh giá, kiểm tra kết quả 
học tập của học sinh bằng trắc nghiệm khách quan. 
- Năm học 2008 – 2009: Một số ý kiến đóng góp vào phương pháp chủ nhiệm. 
- Năm học 2009 – 2010: Áp dụng phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy 
chương III: Sinh trưởng và Phát triển” – Sinh 11 chương trình nâng cao. 
 - Năm học 2010 – 2011: Một số kinh nghiệm lồng ghép kiến thức giáo dục 
giới tính trong giảng dạy môn sinh lớp 11. 
MỤC LỤC 
I. Lí do chọn đề tài ........................................................................................Trang 1 
II. Nội dung: 
1. Cơ sở lý luận .......................................................................................Trang 2 
a. Bản chất dạy học nêu vấn đề...........................................................Trang 2 
b. Các phương pháp dạy học nêu vấn đề.............................................Trang 3 
c. Các bước tiến hành của dạy học nêu vấn đề...................................Trang 3 
2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài.......................Trang 4 
Bài 10: Tương tác gen và tác động đa hiệu của gen..................................Trang 4 
Bài 11: Liên kết gen và hoán vị gen..........................................................Trang 7 
Bài 12: Di truyền liên kết với giới tính và di truyền ngoài nhân ........... Trang 
10 
III. Hiệu quả của đề tài...................................Trang 
12 
IV. Đề xuất, khuyến nghị khản năng áp dụngTrang 
14 
V. Tài liệu tham khảo................................................................................... .Trang 
16 
- - - - - * * * - - - - - 
I – LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 
Trong xã hội hiện đại, khoa học kỹ thuật phát triển nhanh như vũ bão với 
sự xuất hiện của nhiều ngành khoa học mới đặc biệt là sự bùng nổ của công nghệ 
thông tin làm cho khối lượng tri thức tăng lên một cách nhanh chóng. Điều đó đã 
đặt ra cho dạy học một yêu cầu mới không chỉ dạy học kiến thức mà quan trọng 
hơn là dạy cho học sinh cách học và tự học. 
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn Đảng và Nhà nước đã và đang tiến hành đổi 
mới toàn diện về giáo dục ở các cấp học trong đó có THPT nhằm nâng cao chất 
lượng, hiệu quả đào tạo. Sự đổi mới này liên quan đến rất nhiều lĩnh vực như: 
đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và kiểm tra 
đánh giá. Trong đó đổi mới phương pháp dạy học được đặt lên hàng đầu. Luật 
giáo dục điều 28.2 đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính 
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của 
từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận 
dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú 
học tập cho học sinh” có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là “ hướng tới 
hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động”. 
Tuy nhiên, trong thực tiễn việc dạy học ngày nay gặp rất nhiều khó khăn, hầu hết 
thầy cô giáo đều mang tâm huyết và lòng nhiệt tình của mình để đầu tư vào 
giảng dạy với mong muốn là học sinh của mình sẽ đạt được kết quả học tập tốt, 
đạo đức tốt để sau này phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân. Nhưng ngược lại, 
kết quả học tập của học sinh chưa cao, ít tiến bộ, thậm chí có em sức học ngày 
càng sa sút. Có nhiều ý kiến khác nhau về kết quả này, nhưng hầu hết đều cho 
rằng có ba yếu tố ảnh hưởng đến học tập của các em: 
- Ý thức tự học tập, khả năng chủ động tiếp thu kiến thức của các em kém, bị 
trào lưu chơi game, phim ảnh không lành mạnh tác động tiêu cực. 
- Chương trình học còn nặng nề, ôm đồm về mặt kiến thức. Xét riêng chương 
trình sinh học của lớp 12 bao gồm 3 phần chính: di truyền; tiến hóa; sinh thái; 
nếu trước đây lượng kiến thức này học sinh được học cả ở lớp 11 thì nay chỉ gói 
gọn trong lớp 12. Đặc biệt phần di truyền lượng kiến thức về mặt lí thuyết nhiều, 
phân phối chương trình dành cho tiết bài tập không có học sinh chỉ có chút ít 
kiến thức phần tế bào ở lớp 10, còn kiến thức lớp 9 hầu như không nhớ. 
- Phương pháp dạy học chưa đáp ứng được nội dung sách giáo khoa. Hiện nay 
hầu hết các giáo viên đều chủ động tích cực đổi mới phương pháp dạy học nhằm 
hướng hoạt động học tập cho học sinh theo hướng tích cực tuy nhiên việc lựa 
chọn phương pháp phù hợp với nội dung bài dạy, đối tượng học sinh không phải 
giáo viên nào cũng làm tốt. Thực tế tham gia giảng dạy môn sinh lớp 12 một số 
năm, tôi nhận thấy đối với phần di truyền mà đặc biệt là phần các qui luật di 
truyền do kiến thức của từng bài dài, khó, trừu tượng lại có phần vận dụng giải 
bài tập nên sử dụng phương pháp dạy học nhóm hay lạm dụng công nghệ thông 
tin thường không đáp ứng thời gian, học sinh nắm kiến thức hời hợt. Sử dụng 
dạy học nêu vấn đề trong giảng dạy các quy luật di truyền đã giúp học sinh hiểu 
sâu kiến thức và vận dụng tốt kiến thức. Tuy nhiên vận dụng phương pháp này 
như thế nào cho hiệu quả bởi nếu giáo viên vận dụng không phù hợp sẽ rất dễ 
đưa học sinh vào kiểu tiếp thu kiến thức thụ động nhàm chán, để tạo hiệu quả tối 
ưu cho phương pháp này đòi hỏi người giáo viên phải hiểu rõ bản chất, các bước 
tiến hành của phương pháp, nội dung, trọng tâm của từng bài, đối tượng mình 
cầm truyền thụ, có thể vận dụng đối với cả bài, từng phần hay kết hợp với khai 
thác công nghệ thông tin hoặc hoạt động nhóm cho hiệu quả. Trong sáng kiến 
kinh nghiệm này tôi xin trình bày một số kinh nghiệm của bản thân khi vận dụng 
phương pháp dạy học nêu vấn đề vào giảng dạy bài 10, 11, 12 - Sinh lớp 12 Ban 
cơ bản. 
II- TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI: 
1 – Cơ sở lý luận: 
1.1 - Bản chất dạy học nêu vấn đề: 
a. Khái niệm về dạy học nêu vấn đề: 
- Là phương pháp dạy học đưa học sinh vào chính sự tìm tòi có hiệu quả của các 
nhà khoa học, tức là chuyển hoá sự tìm tòi thành phẩm chất của cá thể học sinh 
theo con đường tựa như con đường mà loài người đã theo để khám phá, kiếm tìm 
và đã vật chất hoá các phát minh, phát kiến. 
- Đặc trưng của dạy học nêu vấn đề thể hiện ở hai yếu tố thành phần: tình huống 
có vấn đề và giả thuyết để giải quyết vấn đề. 
- Kiểu dạy học nêu vấn đề tập hợp nhiều PPDH cụ thể nhằm tổ chức hoạt động 
nhận thức của học sinh theo con đường hình thành và giải quyết vấn đề. Dạy học 
nêu vấn đề nằm trong hệ PPDH tích cực với quan điểm học sinh là trung tâm của 
quá trình dạy học. Các PPDH như diễn giảng, đàm thoại, thí nghiệm...theo kiểu 
nêu vấn đề đều có hiệu quả mang lại sự hứng thú cho học sinh chuẩn bị tiếp thu 
kiến thức mới, tăng cường năng lực hoạt động độc lập, sáng tạo của chủ thể nhận 
thức. 
b - Bản chất tình huống có vấn đề trong quá trình dạy học: 
Học sinh trong quá trình nhận thức vốn tri thức chung của nhân loại, đã vấp phải 
tình huống giữa vốn hiểu biết cuả bản thân với nội dung một khái niệm, qui luật 
mới nào đó thì sẽ xuất hiện vấn đề đó là vấn đề học tập. 
Trong dạy học nêu vấn đề việc tạo ra tình huống có vấn đề trong quá trình dạy 
học đóng vai trò quan trọng quyết định sự thành công của người dạy, giáo viên 
tạo tình huống phải phù hợp với khả năng cuả học sinh, có tỷ lệ hợp lý giữa cái 
đã biết và cái chưa biết. Vấn đề học tập phải vừa sức cuả học sinh để các em có 
khả năng giải quyết vấn đề đó. Nếu vấn đề đặt ra cho học sinh quá dễ hoặc quá 
khó đều không mang lại hiệu quả. 
Ví dụ: Khi dạy cấu tạo 2 mạch đơn của phân tử ADN, giáo viên đưa ra tình 
huống: mối liên kết giữa các bazơnitric trên 2 mạch là A liên kết với T và G liên 
kết với X, từ đó rút ra một bazơnitric có kích thước lớn (A, G) liên kết với một 
bazơnitric có kích thước nhỏ ( T, X). 
Nếu tình huống này đưa ra cho học sinh lớp 9 khi dạy về cấu trúc ADN thì đó là 
tình huống không làm xuất hiện vấn đề học tập ở học sinh, bởi vì những kiến 
thức của học sinh lớp 9 về hóa học, sinh học chưa đủ để tìm tòi vấn đề mới. 
Nhưng cũng với tình huống trên đặt ra trước học sinh lớp 12 thì sẽ là tình huống 
có vấn đề. Một số học sinh có năng lực học tập sẽ hình thành câu hỏi có vấn đề: 
Tại sao loại bazơnitric có kích thước lớn A không liên kết với bazơnitric có kích 
thước nhỏ X và loại G không liên kết với loại T? Tình huống trên giáo viên đưa 
ra khi học sinh chưa biết bản chất liên kết hidrô giữa các bazơnitric thì bản thân 
các học sinh cũng không xuất hiện câu hỏi có vấn đề. 
1.2 – Các phương pháp dạy học nêu vấn đề: 
a. Trình bày nêu vấn đề: 
- Hoàn cảnh sử dụng: Những vấn đề học sinh không tự lực giải quyết được. 
- Diễn tiến sau khi tạo ra tình huống có vấn đề, giáo viên hay tác giả sách giáo 
khoa chẳng những nêu lời giải cuối 

File đính kèm:

  • pdfskkn_van_dung_phuong_phap_day_hoc_neu_van_de_vao_giang_day_b.pdf