Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng bản đồ khái niệm trong dạy học Sinh học
Qua chỉ thị 15/CT của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng chỉ rõ: “Đổi mới phương pháp
giảng dạy và học tập trong trường sư phạm nhằm tích cực hoá hoạt động học tập, phát
huy tính chủ động, sáng tạo và năng lực tự học, tự nghiên cứu của học sinh. Thầy giáo
giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức, điều khiển, định hướng quá trình dạy học, còn học
sinh giữ vai trò chủ động trong quá trình học tập và tham gia nghiên cứu khoa học”. Để
dạy và học theo hướng tích cực cần: giảm diễn giảng thông báo, tăng cường diễn giảng
nêu vấn đề, nâng cao chất lượng thực hành trong phòng thí nghiệm, tăng cường các bài
tập nghiên cứu khoa học Sinh học, giải quyết các tình huống có vấn đề, tăng thời gian tự
học, kết hợp với sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy. Muốn vậy, mỗi giáo viên
cần chú trọng dạy cho học sinh cách học và tự học.
Trong giảng dạy Sinh học ở trường THPT, nội dung kiến thức rất phong phú ở từng
bài, từng chương, tùy cách giảng dạy ở từng giáo viên mà có người cho rằng nội dung bài
quá dài hoặc quá ngắn. Để truyền đạt kiến thức cho học sinh thì rất nhiều cách ,nhưng
vấn đề đặt ra là làm thế nào để học sinh có thể nắm bắt nội dung bài học chính xác khoa
học bên cạnh đó tạo cho các em sự say mê đối với môn học này. Phương pháp dạy học
Sinh học ở THPT thì rất nhiều như: dạy học khám phá, dạy học bằng Module, dạy học
bằng đặt vấn đề và giải quyết vấn đề, dạy học bằng bản đồ khái niệm, ôn tập và củng cố
kiến thức
Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Sử dụng bản đồ khái niệm trong dạy học Sinh học

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI Đơn vị: Trường THPT Ngô Quyền Mã số: ................................ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SỬ DỤNG BẢN ĐỒ KHÁI NIỆM TRONG DẠY HỌC SINH HỌC Người thực hiện: Nguyễn Thị Trần Thụy Lĩnh vực nghiên cứu: Quản lý giáo dục Phương pháp dạy học bộ môn: ............................... Phương pháp giáo dục Lĩnh vực khác: ......................................................... Có đính kèm: Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác Năm học: 2011-2012 √ SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN 1. Họ và tên: Nguyễn Thị Trần Thụy 2. Ngày tháng năm sinh: 3-11-1981 3. Nam, nữ: Nữ 4. Địa chỉ: 12 lô D Khu Tái Định Cư Phường Bửu Long, Biên Hòa, Đồng Nai 5. Điện thoại: 0915722124 6. Fax: E-mail: doanhoang311@yahoo.com.vn 7. Chức vụ: Giáo viên 8. Đơn vị công tác: Trường THPT Ngô Quyền II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO - Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Thạc sĩ - Năm nhận bằng: 2010 - Chuyên ngành đào tạo: Sinh học III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC - Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: sinh học - Số năm có kinh nghiệm: 9 năm - Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây: Ứng dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong dạy học sinh học, ứng dụng CNTT hổ trợ cho phương pháp vấn đáp tìm tòi trong dạy học sinh 11. SỬ DỤNG BẢN ĐỒ KHÁI NIỆM TRONG DẠY HỌC SINH HỌC I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI - Để nâng cao chất lượng giảng dạy, phục vụ sự nghiệp phát triển của đất nước, trong mấy năm qua, ngành GD & ĐT đã kiên trì phát động cuộc vận động đổi mới phương pháp nâng cao tính tích cực, sáng tạo của người học trong quá trình dạy học. - Qua chỉ thị 15/CT của Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng chỉ rõ: “Đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập trong trường sư phạm nhằm tích cực hoá hoạt động học tập, phát huy tính chủ động, sáng tạo và năng lực tự học, tự nghiên cứu của học sinh. Thầy giáo giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức, điều khiển, định hướng quá trình dạy học, còn học sinh giữ vai trò chủ động trong quá trình học tập và tham gia nghiên cứu khoa học”. Để dạy và học theo hướng tích cực cần: giảm diễn giảng thông báo, tăng cường diễn giảng nêu vấn đề, nâng cao chất lượng thực hành trong phòng thí nghiệm, tăng cường các bài tập nghiên cứu khoa học Sinh học, giải quyết các tình huống có vấn đề, tăng thời gian tự học, kết hợp với sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy. Muốn vậy, mỗi giáo viên cần chú trọng dạy cho học sinh cách học và tự học. - Trong giảng dạy Sinh học ở trường THPT, nội dung kiến thức rất phong phú ở từng bài, từng chương, tùy cách giảng dạy ở từng giáo viên mà có người cho rằng nội dung bài quá dài hoặc quá ngắn. Để truyền đạt kiến thức cho học sinh thì rất nhiều cách ,nhưng vấn đề đặt ra là làm thế nào để học sinh có thể nắm bắt nội dung bài học chính xác khoa học bên cạnh đó tạo cho các em sự say mê đối với môn học này. Phương pháp dạy học Sinh học ở THPT thì rất nhiều như: dạy học khám phá, dạy học bằng Module, dạy học bằng đặt vấn đề và giải quyết vấn đề, dạy học bằng bản đồ khái niệm, ôn tập và củng cố kiến thức - Ở phạm vi đề tài này, tôi xin đề cập đến vấn đề “Sử dụng Bản đồ khái niệm trong dạy học Sinh học”. Bằng cách này sẽ giúp giáo viên chuyển tải những thông tin cần thiết của bài học đến học sinh, tiết kiệm thời gian viết nội dung kiến thức bài học lên bảng. Ngoài ra, còn giúp giáo viên nhận được thông tin từ học sinh. Đó là cách để nhằm nâng cao khả năng tư duy, khả năng lập luận và kĩ năng trình bày của học sinh. Qua đó học sinh sẽ nhìn được tổng thể kiến thức một cách ngắn gọn nhưng đầy đủ, rút ngắn được thời gian ôn tập củng cố và ghi nhớ bài nhanh hơn. II. THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI 1. Thuận lợi - Lượng kiến thức phong phú với nhiều khái niệm, quá trình và cơ chế sinh học. - Các chương, bài trong sách giáo khoa được bố trí theo một trình tự logic hợp lí. - Nội dung từng bài trong sách giáo khoa gồm nhiều vấn đề có liên quan đến nhau tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên xây dựng bản đồ khái niệm. 2. Khó khăn - Chương trình dạy học sinh học theo chuẩn kiến thức kĩ năng, việc thực hiện và dạy học theo chương trình giãm tải của bộ giáo dục vừa được áp dụng trong năm nay nên các giáo viên còn gặp nhiều khó khăn khi xác định các mục tiêu và tìm giải pháp cho các phần giảm tải - Thời gian ôn tập ngắn nên giáo viên ít có thời gian giúp học sinh khái quát và ôn tập các khái niệm cũng như tìm mối quan hệ giữa chúng. - Do Sinh học là môn học đòi hỏi nhiều tư duy để suy luận và vận dụng thực tiễn, kiến thức môn học đa dạng phong phú, đặc biệt là các quá trình về sự sống, các cơ chế của quá trình, lượng kiến thức dài, đa phần là mới và khó, ngoài ra còn có nhiều hình ảnh và đoạn phim mô tả các quá trình tương đối trừu tượng trong sinh học như các giai đoạn trong quá trình tự nhân đôi ADN, diễn biến quá trình phiên mã, quá trình dịch mã, Như vậy, trong quá trình dạy và học chúng ta sẽ thường gặp một số khó khăn: Học sinh sẽ tập trung ghi bài mà không tham gia thảo luận nhóm, hoặc chỉ tập trung thảo luận nhóm, trao đổi và quan sát hình ảnh mà không ghi bài. Như vậy, học sinh không thể nắm được ý chính của bài để định hướng học tập. Mặt khác, hạn chế của học sinh là chưa biết cách học, cách ghi kiến thức vào bộ não mà chỉ học thuộc lòng, học vẹt, thuộc một cách máy móc, thuộc nhưng không nhớ được kiến thức trọng tâm, không nắm được “sự kiện nổi bật” trong bài học, trong tài liệu tham khảo, hoặc không biết liên tưởng, liên kết các kiến thức có liên quan với nhau. Học sinh còn hạn chế trong việc tư duy để lập luận và trình bày đầy đủ kiến thức. III. NỘI DUNG ĐỀ TÀI 1. Định nghĩa bản đồ khái niệm: - Bản đồ khái niệm là một dạng hình vẽ có cấu trúc không gian 2 chiều, gồm các khái niệm và các đường nối. Khái niệm được đóng khung trong các hình tròn,elip, hình chữ nhật. Đường nối đại diện cho các mối quan hệ giữa các khái niệm, có gắn nhãn nhằm miêu tả rõ ràng hơn mối quan hệ đó. Những khái niệm được sắp xếp theo trật tự logic, mỗi khái niệm là một nhánh của bản đồ. - Như vậy, bản đồ khái niệm bao gồm các “nút” tượng trưng cho các khái niệm và các đường liên kết tượng trưng cho mối quan hệ giữa các khái niệm tương ứng với các “đỉnh” và các “cung” trong lý thuyết Graph. - Bản đồ khái niệm xuất phát từ học thuyết về sự tiếp thu kiến thức của Ausubel, trong đó tập trung nhấn mạnh ảnh hưởng của những kiến thức sẵn có của học sinh đến việc tiếp thu kiến thức sau đó. Theo Ausubel, “nhân tố đặc biệt quan trọng nhất ảnh hưởng đến việc tiếp thu kiến thức là những gì mà những gì người học đã được biết”. Vì vậy, kết quả lĩnh hội sẽ tốt hơn khi học sinh có ý thức và cách liên kết những kiến thức mới với những khái niệm đã được học. Ausubel cho rằng điều này tạo ra một chuỗi những biến đổi bên trong toàn bộ cấu trúc nhận thức của chúng ta, sửa đổi những khái niệm đã tồn tại và hình thành những mối liên hệ mới giữa các khái niệm. Đó là lý do tại sao việc học hiểu tồn tại lâu dài và có hiệu quà cao trong khi việc học vẹt rất dễ quên và không dễ dàng áp dụng trong những bài học hay những tình huống có vấn đề mới. 2. Đặc điểm của những bản đồ khái niệm: - Phần cốt lõi của bản đồ khái niệm là mệnh đề (propositions). Mệnh đề là sự phát biểu về sự vật hay sự kiện nào đó xảy ra một cách tự nhiên hoặc nhân tạo. Mệnh đề gồm 2 khái niệm(hoặc nhiều hơn) nối với nhau bởi một đường nối có nhãn nhằm tạo nên lời phát biểu có ý nghĩa[7]. - Từ nằm trên đường nối là các từ nối hay các cụm từ nối, định rõ mối quan hệ giữa hai khái niệm. Phần lớn nhãn của các khái niệm là một danh từ, mặc dù đôi khi chúng ta sử dụng các ký hiệu như + hay %, và đôi khi là sử dụng một cụm từ. - Các khái niệm được đại diện trong một hình thức thứ bậc với các khái niệm chung, bao hàm nằm ở đỉnh của bản đồ và các khái niệm cụ thể, ít bao hàm hơn được sắp xếp có hệ thống ở bên dưới. Cấu trúc thứ bậc đối với từng lĩnh vực kiến thức riêng biệt cũng phụ thuộc vào bối cảnh mà kiến thức đó áp dụng hay xem xét. Vì thế, để xây dựng được bản đồ khái niệm tốt nhất chúng ta phải tìm đươc được gọi là câu hỏi trọng tâm(focus question)[7]. - Đặc trưng quan trọng khác của bản đồ khái niệm là đường nối ngang(cross-links). Đường nối này thể hiện mối quan hệ giữa các khái niệm trong những lĩnh vực khác nhau của bản đồ khái niệm. Trong sự tạo thành kiến thức mới, các đường nối thường biểu trưng cho sự sáng tạo trong việc tiếp thu tri thúc của học sinh. - Bản đồ khái niệm có thể có những ví dụ đặt ở cuối khái niệm, được bao quanh bởi các hình tròn, elip, hình chữ nhật có nét vẽ đứt. - Dựa theo thành phần, có các bản đồ khái niệm sau: Bản đồ chỉ có khái niệm: Bản đồ có cấu trúc cho sẵn, chỉ có những khái niệm chìa khóa nhưng thiếu từ nối. Bản đồ chỉ có các từ nối: Bản đồ có cấu trúc cho sẵn, có các đường nối nhưng thiếu khái niệm. Bản đồ câm: bản đồ có cấu trúc cho sẵn nhưng chưa có khái niệm và từ nối. Bản đồ hỗn hợp: Bản đồ có cấu trúc cho sẵn nhưng thiếu một số khái niệm hoặc từ nối. - Dựa theo hình dạng bản đồ có các dạng bản đồ sau: Bản đồ khái niệm hình nhện: Bản đồ khái niệm hình nhện có một khái niệm trung tâm, xung quanh là những khái niệm bổ sung. Bản đồ khái niệm phân cấp: Bản đồ khái niệm phân cấp trình bày thông tin theo thứ tự quan trọng giảm dần. Thông tin quan trọng nhất, tổng quát nhất được đặt lên đỉnh, dưới nó là các khái niệm cụ thể hơn. Bản đồ khái niệm tiến trình: Bản đồ khái niệm tiến trình tổ chức thông tin theo dạng tuyến tính. Dạng bản đồ này thích hợp cho việc thể hiện những khái niệm phản ánh các hiện tượng, quá trình. Bản đồ khái niệm hệ thống: Bản đồ khái niệm hệ thống tổ chức thông tin theo dạng tương tự bản đồ tiến trình nhưng thêm vào ‘đầu vào” và “đầu ra”. - Ngoài ra còn có những dạng bản đồ khái niệm như: bản đồ khái niệm phong cảnh, bản đồ khái niệm đa chiề
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_su_dung_ban_do_khai_niem_trong_day_hoc.pdf