Sáng kiến kinh nghiệm Củng cố kiến thức bài học bằng bản đồ tư duy

Thực ra, sáng kiến của tôi không mới, nó chỉ mang tính kế thừa, chủ động

phát huy hơn nữa tính tích cực của học sinh. Dựa trên những tài liệu nghiên cứu

của các nhà khoa học, thông qua các bài tập bản đồ tư duy, Gv định hướng và

hình thành phương pháp tự học cho hs, giúp học sinh khám phá được khả năng

của bản thân, tự tin, chủ động phát biểu, kết hợp đồng thời với thảo luận nhóm,

hs nhớ bài lâu hơn; kết quả làm bài kiểm tra sẽ tốt hơn.

BĐTD giúp HS học được phương pháp học: Việc rèn luyện phương pháp học

tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là

mục tiêu dạy học. Thực tế cho thấy một số HS học rất chăm chỉ nhưng vẫn học

kém, nhất là môn toán, môn lịch sử. Các em này thường học bài nào biết bài đấy,

học phần sau đã quên phần trước và không biết liên kết các kiến thức với nhau,

không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau. Phần lớn số

HS này khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để

lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình

pdf 9 trang Huy Quân 01/04/2025 280
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Củng cố kiến thức bài học bằng bản đồ tư duy", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Củng cố kiến thức bài học bằng bản đồ tư duy

Sáng kiến kinh nghiệm Củng cố kiến thức bài học bằng bản đồ tư duy
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI 
ĐƠN VỊ: Trường THPT đoàn Kết 
*** 
Mã số:-------------------- 
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 
CỦNG CỐ KIẾN THỨC BÀI 
HỌC BẰNG BẢN ĐỒ TƯ DUY 
 Người thực hiện: Phan Thị Mộng Thu 
 Lĩnh vực nghiên cứu: 
 Quản lí giáo dục: 
 Phương pháp dạy học bộ môn: 
 Phương pháp giáo dục: 
 Lĩnh vực khác: 
Sản phẩm đính kèm: 
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác 
SƠ LƯỢC LÍ LỊCH KHOA HỌC 
I- THÔNG TIN CÁ NHÂN 
1. Họ và tên: Phan thị Mộng Thu 
2. Ngày tháng năm sinh: 10/12/1960 
3. Nam, nữ: Nữ 
4. Địa chỉ khu 4, thị trấn Tân Phú, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai 
5. Điện thoại: 0613 696 177 
6. Fax. E-mail: mthu@ yahoo. com 
7. Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn 
8. Đơn vị công tác : Trường THPT Đoàn Kết 
II- TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO 
- Học vị : Đại học sư phạm 
- Năm nhận bằng: 1985 
- Chuyên ngành đào tạo: Môn Sinh - Nông 
III- KINH NGHIỆM KHOA HỌC 
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: giảng dạy 
- Số năm có kinh nghiệm : 28 năm 
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây: 
+ Thiết kế hình ảnh bằng powerpoint phục vụ cho tiết dạy 
+ Thiết kế chương trình học ngoại khóa môn sinh học cho hs khối 11 
+ Sơ đồ động: Khai thác- sử dụng – hiệu quả 
+ Tạo tiết học thân thiện nhằm phát huy tốt đa tính tích cực của hs 
+ Tích cực hóa hoạt động của học sinh thông qua các bài tập ô chữ 
+ Kinh nghiệm giảng dạy các tiết học có kiến thức tích hợp 
**** 
I- LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 
- Từ thực tiễn đổi mới phương pháp dạy và học; xây dựng “trường học thân 
thiện, học sinh tích cực” 
- Đổi mới kiểm tra đánh giá; định hướng ra đề kiểm tra trắc nghiệm của bộ 
môn sinh học 
 - Giúp HS học tập một cách tích cực; ghi chép có hiệu quả; biết cách khái 
quát tổng hợp ,cô đọng kiến thức vừa mới lĩnh hội : “Học sinh sẽ học được 
phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư 
duy.” 
- Nhu cầu tự học, tự bồi dưỡng của cá nhân, nâng cao trách nhiệm của giáo 
viên bộ môn đối với học sinh 
II- THỰC TRẠNG KHI NGHIÊN CỨU 
1- Thuận lợi: 
- Được sự nhiệt tình giúp đỡ hỗ trợ từ các đồng nghiệp. 
- Được sự khuyến khích, ủng hộ của lãnh đạo trường và các thầy cô giáo 
trong tổ bộ môn. 
- Hứng thú học tập của hs khi tự mình khám phá năng lực cá nhân. 
2- Khó khăn: 
- Hiện nay, chúng ta thường ghi chép thông tin bằng các ký tự, đường 
thẳng, con số. Với cách ghi chép này, chúng ta mới chỉ sử dụng một nửa 
của bộ não - não trái, mà chưa sử dụng kỹ năng bên não phải, nơi giúp 
chúng ta xử lý các thông tin về nhịp điệu, màu sắc, không gian ... và cách 
ghi chép thông thường khó nhìn được tổng thể của cả vấn đề. 
- Qua nghiên cứu cho thấy, nhiều học sinh chưa biết cách học, cách ghi 
kiến thức vào bộ não mà chỉ học thuộc lòng, học vẹt, thuộc một cách máy 
móc, thuộc nhưng không nhớ được kiến thức trọng tâm, không nắm được 
“sự kiện nổi bật” trong tài liệu đó, hoặc không biết liên tưởng, liên kết các 
kiến thức có liên quan với nhau. 
3- Số liệu thống kê: 
Khi sử dụng sơ đồ tư duy ở một số lớp mà tôi trực tiếp giảng dạy trong năm 
học 2011 2012. Qua khảo sát kết quả như sau: 
Lớp Sỉ số Khả năng khai thác kiến thức Mức độ vận dung 
12a1 41 Tốt 95% 
12a2 46 Tốt 90% 
11b9 42 Tốt 80% 
11b10 46 Tốt 90% 
11b11 44 Tốt 98% 
11b12 43 Tốt 89% 
III- NỘI DUNG 
A. Cơ sở lí luận: 
- Bản đồ tư duy (BĐTD) là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh 
nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của 
một nội dung, hệ thống hoá một chủ đề. Đó còn là công cụ đồ họa nối các 
hình ảnh có liên hệ với nhau vì vậy có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy 
học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống 
hóa kiến thức sau mỗi chương,... 
- Trước đây, với cách học truyền thống đã khiến tư duy của nhiều em học 
sinh đi vào lối mòn, không kích thích được sự phát triển của trí não, điều 
đó làm cho một số em học sinh tuy rất chăm học nhưng sự tiếp thu vẫn rất 
ít vì không biết liên kết các kiến thức với nhau, không biết vận dụng 
những kiến thức đã học trước đó vào phần sau. Học sinh chỉ biết ghi mà 
không biết cách lưu thông tin sao cho khoa học, tự chủ, độc lập nhất. 
- Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, 
nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo 
ngôn ngữ của mình vì vậy việc sử dụng BĐTD giúp học sinh học tập một 
cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não. 
- Lần đầu tiên, Bộ GD&ĐT triển khai trên diện rộng chuyên đề ứng dụng 
bản đồ tư duy hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học. Nhiều giáo viên hồ 
hởi tiếp nhận phương pháp mới này với hy vọng sẽ giúp học sinh thoát 
khỏi lối học vẹt. Hướng cho HS có thói quen khi tư duy lôgic theo hình 
thức sơ đồ hoá trên BĐTD; hình thành kĩ năng hiểu - biết - tiếp thu- 
nhận dạng kiến thức có hệ thống. 
B. Biện pháp thực hiện: 
 - Để giúp “học sinh tích cực” thì thầy, cô giáo phải có phương pháp giảng 
dạy tích cực. Vì thế, việc đổi mới phương pháp giảng dạy của giáo viên, 
phải hướng tới mục tiêu lôi cuốn sự tham gia của tất cả học sinh. Việc 
củng cố kiến thức bằng bản đồ tư duy đã giải quyết được vấn đề này. 
 - Muốn hình thành một bản đồ tư duy đạt hiệu quả giáo viên cần tiến 
hành các yêu cầu sau: 
+ Bước 1. Giới thiệu cho học sinh các yêu cầu chung về cách “ghi chép” 
có hiệu quả trên BĐTD gồm các nội dung sau: 
1). Dùng từ khóa và ý chính 
2). Viết cụm từ, không viết thành câu 
3). Dùng các từ viết tắt. 
4).Có tiêu đề. 
5). Đánh số các ý 
6). Liên kết ý nên dùng nét đứt, mũi tên, số, màu sắc, 
7). Ghi chép nguồn gốc thông tin để có thể tra cứu lại dễ dàng 
8) Sử dụng màu sắc để ghi. 
+ Bước 2. Cho HS làm quen với bản đồ tư duy bằng cách giới thiệu cho HS 
một số “BĐTD” cùng với sự dẫn dắt của GV để các em làm quen. 
+ Bước 3. Tập “đọc hiểu” BĐTD, sao cho chỉ cần nhìn vào BĐTD bất kỳ 
HS nào cũng có thể thuyết trình được nội dung một bài học hay một chủ đề, 
một chương theo mạch lôgic của kiến thức 
 + Bước 4. Cho HS thực hành vẽ BĐTD trên giấy (Vẽ BĐTD theo nhóm hoặc 
từng cá nhân) 
- Chọn tên chủ đề hoặc hình vẽ của chủ đề chính cho vào vị trí trung tâm, 
chẳng hạn:tế bào, bảo vệ môi trường, quang hợp, đột biến, quy luật di 
truyền . 
- Từ một vấn đề hay tên chủ đề chính đưa ra các ý lớn thứ nhất, ý lớn thứ 
hai, thứ ba... mỗi ý lớn lại có các ý nhỏ liên quan với nó, mỗi ý nhỏ lại có 
các ý nhỏ hơn ... các nhánh này như “bố mẹ” rồi “con, cháu, chắt, chút 
chít”... các đường nhánh có thể là đường thẳng hay đường cong theo cách 
hiểu của các em 
IV- PHẠM VI ỨNG DỤNG VÀ MINH HỌA CỤ THỂ: 
A. Phạm vi ứng dụng: Môn Sinh học THPT 
1. Sử dụng vào việc hình thành kiến thức mới: 
- HS thảo luận nhóm hoặc làm việc độc lập vẽ BĐTD 
- HS thuyết trình trước nhóm, lớp 
=> GV, HS bổ sung điều chỉnh 
 => Hình thành kiến thức mới 
 2. Sử dụng ôn tập củng cố, hệ thống hóa kiến thức: 
 - HS hoặc nhóm HD vẽ BĐTD 
 - Hs trình bày=> chỉnh sửa, bổ sung=> hoàn thiện 
 - HS thuyết trình trước nhóm, lớp 
 => GV, HS bổ sung điều chỉnh 
 => hoàn chỉnh hệ thống hóa kiến thức 
 B. Minh họa cụ thể: Môn Sinh học khối 11 và khối 12 
1. Môn sinh học khối 11: 
( các bài minh họa của hs được đính kèm theo chuyên đề in giấy ) 
2. Môn sinh học khối 12 
( Trong phạm vi đề tài tôi chỉ minh họa một số bản đồ tư duy của hs, còn lại 
phần lớn các bài tập khác do hs tự thiết kế được tôi sử dung làm tư liệu giảng 
dạy được lưu trữ trong tư liệu chuyên môn của tổ và trên server của trường) 
Biến dị 
Biến dị di truyền Biến dị không di 
truyền 
(Thường biến) 
Đột biến Biến dị tổ hợp 
Đột biến NST Đột biến gen 
Đột biến số lượng Đột biến cấu trúc 
Đột biến đa bội Đột biến lệch bội 
Đột biến 
đa bội chẵn 
Đột biến 
đa bội lẻ 
V- KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC: 
 Thực ra, sáng kiến của tôi không mới, nó chỉ mang tính kế thừa, chủ động 
phát huy hơn nữa tính tích cực của học sinh. Dựa trên những tài liệu nghiên cứu 
của các nhà khoa học, thông qua các bài tập bản đồ tư duy, Gv định hướng và 
hình thành phương pháp tự học cho hs , giúp học sinh khám phá được khả năng 
của bản thân , tự tin, chủ động phát biểu, kết hợp đồng thời với thảo luận nhóm, 
hs nhớ bài lâu hơn; kết quả làm bài kiểm tra sẽ tốt hơn. 
BĐTD giúp HS học được phương pháp học: Việc rèn luyện phương pháp học 
tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là 
mục tiêu dạy học. Thực tế cho thấy một số HS học rất chăm chỉ nhưng vẫn học 
kém, nhất là môn toán,môn lịch sử. các em này thường học bài nào biết bài đấy, 
học phần sau đã quên phần trước và không biết liên kết các kiến thức với nhau, 
không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau. Phần lớn số 
HS này khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để 
lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình 
 BĐTD- giúp HS học tập một cách tích cực. Việc HS tự vẽ BĐTD có ưu điểm 
là phát huy tối đa tính sáng tạo của HS, phát triển năng khiếu hội họa, sở thích 
của HS, các em tự do chọn màu sắc (xanh, đỏ, vàng, tím,), đường nét (đậm, 
nhạt, thẳng, cong), các em tự “sáng tác” nên trên mỗi BĐTD thể hiện rõ cách 
hiểu, cách trình bày kiến thức của từng HS và BĐTD do các em tự thiết kế nên 
các em yêu quí, trân trọng “tác phẩm” của mình. 
BĐTD giúp HS ghi chép có hiệu quả. Do đặc điểm của BĐTD nên người thiết 
kế BĐTD phải chọn lọc thông tin, từ ngữ, sắp xếp, bố cục để “ghi” thông tin cần 
thiết nhất và lôgic, vì vậy, sử dụng BĐTD sẽ giúp HS dần dần hình thành cách 
ghi chép có hiệu quả. 
Tóm lại với bài tập dùng sơ đồ tư duy sẽ tạo hứng thú học tập tốt hơn; mức độ 
hiểu bài sâu hơn. Đặc biệt hình thành cho học sinh kĩ năng khái quát vấn đề, 
chủ động tiếp nhận kiến thức, hoạch định tương lai; linh hoạt và tiếp thu nhanh 
và giải quyết nhanh các vấn đề liên quan thực tế cuộc sống sau khi ra trường 
VI- BÀI HỌC KINH NGHIỆM: 
1. Điều quan trọng là GV hướng cho HS có thói quen lập BĐTD trước hoặc 
sau khi học một bài hay một chủ đề, một chương, để giúp các em có cách 
sắp xế

File đính kèm:

  • pdfsang_kien_kinh_nghiem_cung_co_kien_thuc_bai_hoc_bang_ban_do.pdf